KONTUM

Cập nhật ngày: 10:54:12 25-06-2013 Lượt xem: 1 (lần)

 Kon Tum là tỉnh miền núi vùng cao, biên giới, nằm ở bắc Tây Nguyên, Bắc giáp tỉnh Quảng Nam (chiều dài ranh giới 142 km), Nam giáp tỉnh Gia Lai (203 km), Đông giáp Quảng Ngãi (74 km), Tây giáp hai nước Lào và Campuchia (đường biên giới dài 280,7 km). Phần lớn tỉnh Kon Tum nằm ở phía tây dãy Trường Sơn, địa hình thấp dần từ bắc xuống nam và từ đông sang tây. 

 

 

  • Địa hình có 3 dạng:

*** đồi, núi: chiếm khoảng 2/5 diện tích toàn tỉnh, bao gồm những đồi núi liền dải có độ dốc 150 trở lên. Các núi ở Kon Tum do cấu tạo bởi đá biến chất cổ nên có dạng khối như khối Ngọc Linh (có đỉnh Ngọc Linh cao 2.598 m) - nơi bắt nguồn của nhiều con sông chảy về Quảng Nam, Đà Nẵng như sông Thu Bồn và sông Vu Gia; chảy về Quảng Ngãi như sông Trà Khúc. Địa hình núi cao liền dải phân bố chủ yếu ở phía bắc - tây bắc chạy sang phía đông tỉnh Kon Tum. Ngoài ra, Kon Tum còn có một số ngọn núi như: ngọn Bon San (1.939 m); ngọn Ngọc Kring (2.066 m). Mặt địa hình bị phân cắt hiểm trở, tạo thành các thung lũng hẹp, khe, suối. Địa hình đồi tập trung chủ yếu ở huyện Sa Thầy có dạng nghiêng về phía tây và thấp dần về phía tây nam, xen giữa vùng đồi là dãy núi Chưmomray.

*** thung lũng: nằm dọc theo sông Pô Kô đi về phía nam của tỉnh, có dạng lòng máng thấp dần về  phía nam, theo thung lũng có những đồi lượn sóng như Đăk Uy, Đăk Hà và có nhiều chỗ bề mặt bằng phẳng như vùng thành phố Kon Tum. Thung lũng Sa Thầy được hình thành giữa các dãy núi kéo dài về phía đông chạy dọc biên giới Việt Nam - Campuchia.

*** cao nguyên: tỉnh Kon Tum có cao nguyên Konplong nằm giữa dãy An Khê và dãy Ngọc Linh có độ cao 1.100 - 1.300 m, đây là cao nguyên nhỏ, chạy theo hướng tây bắc - đông nam.

  • Sông ngòi: Kontum có hai hệ thống sông chính là sông Ba và sông Sê San. Hệ thống sông Ba bắt nguồn từ vùng núi Konklang, huyện Konplong, chảy qua tỉnh Gia Lai, tỉnh Phú Yên và đổ ra biển Đông.  Hệ thống sông Sê San bao gồm các con sông ĐakBla, ĐakPsi và ĐakPôcô.
  • Hành chánh gồm 9 đơn vị: 1 thành phố (Kontum) và 8 huyện.
  • Khí hậu: thuộc vùng khí hậu nhiệt đới gió mùa cao nguyên. Nhiệt độ trung bình trong năm dao động trong khoảng 22 - 230C, biên độ nhiệt độ dao động trong ngày 8 - 90C. Kon Tum có 2 mùa rõ rệt: mùa mưa chủ yếu bắt đầu từ tháng 4 đến tháng 11, mùa khô từ tháng 12 đến tháng 3 năm sau. Tháng có lượng mưa cao nhất là tháng 8. Mùa khô, gió chủ yếu theo hướng đông bắc; mùa mưa, gió chủ yếu theo hướng tây nam.
  • Dân số tỉnh Kontum theo điều tra dân số năm 2011 là 453 200 người phân bố trên diện tích 9689,6 km2, toàn tỉnh Kon Tum có 42 dân tộc, trong đó dân tộc Kinh có 201.153 người, người Xơ Đăng có 104.759 người, người Ba Na có 53.997 người, Người Giẻ Triêng có 31.644 người, người Gia Rai có 20.606 người, người Mường có 5.386 người, Người Thái có 4.249 người, Người Tày có 2.630, cùng các dân tộc ít người khác như Nùng, Hrê, Brâu, Rơ Măm.

 

 
THẮNG CẢNH và DI TÍCH
 
Kon Tum có nhiều cảnh quan tự nhiên như hồ Ya ly, rừng thông Măng Đen, khu bãi đá thiên nhiên Km 23, thác Đắk Nung, suối nước nóng Đắk Tô và các khu rừng đặc dụng, khu bảo tồn thiên nhiên… có khả năng hình thành các khu du lịch cảnh quan, an dưỡng. Các cảnh quan sinh thái này có thể kết hợp với các di tích lịch sử cách mạng như di tích cách mạng ngục Kon Tum, ngục Đắk Glei, di tích chiến thắng Đắk Tô - Tân Cảnh, chiến thắng Plei Kần, chiến thắng Măng Đen… các làng văn hoá truyền thống bản địa tạo thành các cung, tuyến du lịch sinh thái - nhân văn.
 

 

·        Nhà thờ gỗ: Nhà thờ gỗ Kon Tum do một linh mục người Pháp khởi công xây dựng năm 1913, hoàn thành vào năm 1918, tọa lạc trên một diện tích rộng giữa trung thành phố, có kiến trúc kết hợp giữa phong cách Roman với kiểu nhà sàn của người Ba Na. Công trình này hoàn toàn bằng gỗ, được những bàn tay tài hoa của nghệ nhân Bình Định, Quảng Nam xây dựng. 
Khu hoa viên của nhà thờ có nhà rông mái thật cao, các bức tượng tạc từ rễ cây làm không gian mang đậm màu sắc đại ngàn. Ngoài thánh đường chính, nhiều công trình khác cũng được xây dựng rất tinh tế và mỹ thuật như nhà thờ, nhà tiếp khách, nhà trưng bày các sản phẩm dân tộc và tôn giáo. 
Trong khuôn viên phía sau nhà thờ còn có cô nhi viện, cơ sở may, dệt thổ cẩm, cơ sở mộc để giáo dục, đào tạo và tạo việc làm cho nhiều mảnh đời không may.

 

 

 

·        Chủng viện Kon Tum do vị giám mục đầu tiên của giáo phận Kon Tum xây dựng từ năm 1935 đến năm 1938, cũng có kiến trúc tương tự như nhà thờ nhưng quy mô lớn hơn. Hai hàng cây sứ lâu năm tỏa bóng mát, thoảng hương thơm trên đường vào trong chủng viện.

Trên tầng hai của chủng viện có một phòng truyền thống trưng bày chi tiết về lịch sử truyền giáo tại Kon Tum từ giữa thế kỷ XIX, gồm nhiều hiện vật, các bút tích... của những vị linh mục trên đường truyền đạo, các hình ảnh, tài liệu liên quan đến lịch sử hình thành và phát triển của Kon Tum. Cũng có thể coi đây là một bảo tàng nhỏ về vật dụng sinh hoạt, nông cụ, vật thể văn hóa các dân tộc thiểu số đang sinh sống trên địa bàn tỉnh này. 

 

 

·       Cầu treo KonKlor: thuộc địa phận làng Konklor, cách trung tâm thành phố khoảng hơn 2km. Cầu nối liền hai bờ của dòng sông Đakbla. Cầu có chiều dài 29,2 m, rộng 4,5 m, xây dựng vào ngày 03/02/1993 và hoàn thành ngày 19/5/1994. 

 

 

·        Làng KonKoTu: nằm ven bờ sông Dakbla, thuộc xã DakRơWa của dân tộc Bahnar, được xem là làng cổ nhất trên địa bàn thành phố Kontum. Tất cả 20 ngôi nhà sàn có kiến trúc đặc hữu Bahnar đươc xây chung quanh ngôi nhà Rông truyền thống. Ngôi nhà Bahnar có hình chữ nhật với chiều dài trung bình khoảng 10m. Mỗi căn nhà gồm 12 cây cột gỗ cà chít được chia đều mỗi bên 6 cây để tạo nên sự vững chãi, cân bằng cho ngôi nhà. Trong những ngôi nhà dài, có ba đến bốn đời người Bahnar sinh sống với nhau: đó là phong tục gắn kết cộng đồng dân cư và là niềm tự hào của dân tôc Bahnar.  

 

 

Nhà của người Bahnar

 

·       Cụm di tích chiến trường xưa bao gồm tượng đài chiến thắng Đaktô –Tân Cảnh, sân bay Phượng Hoàng, đồi Charlie – căn cứ 42, ngã ba biên giới Đông Dương (Việt Nam-Lào-Campuchia), đường Hồ Chí Minh huyền thoại và tượng đài chiến thắng PleiKần.

 

 

·        Không gian văn hóa cồng chiêng Tây Nguyên trải rộng suốt 5 tỉnh Kon Tum, Gia Lai, Đăk Lăk, Đăk Nông, Lâm Đồng và chủ nhân của loại hình văn hóa đặc sắc này là cư dân các dân tộc Tây Nguyên: Bana, Xêđăng, Mnông, Cơho, Rơmăm, Êđê, Giarai... Cồng chiêng gắn bó mật thiết với cuộc sống của người Tây Nguyên, để diễn tả niềm vui, nỗi buồn trong cuộc sống, trong lao động và sinh hoạt hàng ngày của họ.

Cồng chiêng là loại nhạc khí bằng hợp kim đồng, có khi pha vàng, bạc hoặc đồng đen. Cồng là loại có núm, chiêng không núm. Nhạc cụ này có nhiều cỡ, đường kính từ 20cm đến 60cm, loại cực đại từ 90cm đến 120cm. Cồng chiêng có thể được dùng đơn lẻ hoặc dùng theo dàn, bộ từ 2 đến 12 hoặc 13 chiếc, thậm chí có nơi từ 18 đến 20 chiếc.

Cồng chiêng Tây Nguyên là loại nhạc cụ độc đáo, đặc sắc và đa dạng. Các dàn cồng chiêng Tây Nguyên lấy thang bồi âm tự nhiên làm cơ sở để thiết lập thang âm của riêng mình.

Không gian văn hóa Cồng Chiêng Tây Nguyên được UNESCO công nhận  Kiệt tác truyền khẩu và phi vật thể nhân loại vào ngày 15 tháng 11 năm 2005.

 

 

 

 

 

 

 

  LIÊN KẾT WEBSITE

  THỐNG KÊ TRUY CẬP

Trực tuyến 77
Hôm nay 197
Trong tháng 49391
Tổng truy cập 6251649