QUẢNG TRỊ

Cập nhật ngày: 16:40:30 25-06-2013 Lượt xem: 1 (lần)

Quảng Trị  thuộc vùng Bắc Trung Bộ Việt Nam, có khu phi quân sự là một chiến trường ác liệt trong cuộc Chiến tranh Việt Nam, Bắc giáp Quảng Bình, Nam giáp Thừa Thiên, Đông giáp Biển Đông, Tây giáp Lào. Quảng Trị có lợi thế về địa lý - kinh tế, có vị trí quan trọng trong hành lang kinh tế Đông-Tây nối với Lào-Thái Lan-Myanmar qua cửa khẩu quốc tế Lao Bảo đến các cảng biển miền Trung, thuận lợi trong hợp tác kinh tế thương mại trong khu vực.

 

 

·          Địa hình: Quảng Trị thấp dần từ Tây sang Đông, Đông Nam và chia thành 4 dạng địa hình:

            *** vùng núi cao phân bố ở phía Tây từ dãy Trường Sơn đến miền đồi bát úp, có độ cao từ

            250-2000 m, độ dốc 20-300. Địa hình phân cắt mạnh, độ dốc lớn, quá trình xâm thực và rửa trôi

            mạnh. Địa hình vùng núi có thể phát triển trồng rừng, trồng cây lâu năm và chăn nuôi đại gia súc.

            *** vùng gò đi, núi thp là phần chuyển tiếp từ địa hình núi cao đến địa hình đồng bằng, chạy dài

            dọc theo tỉnh, có độ cao từ 50-250m, một vài nơi có độ cao trên 500 m. Địa hình gò đồi, núi thấp

            thích hợp cho trồng cây công nghiệp như cao su, hồ tiêu, cây ăn quả lâu năm.

            *** vùng đng bng là những vùng đất được bồi đắp phù sa từ hệ thống các sông, địa hình tương đối

            bằng phẳng, có độ cao tuyệt đối từ 25-30 m. Đây là vùng trọng điểm sản xuất lương thực, nhất là

            sản xuất lúa.

            *** vùng ven biển chủ yếu là các cồn cát, đụn cát phân bố dọc ven biển. Địa hình tương đối bằng

            phẳng, thuận lợi cho việc phân bố dân cư. Một số khu vực có địa hình phân hóa thành các bồn trũng

           cục bộ dễ bị ngập úng khi có mưa lớn hoặc một số khu vực chỉ là các cồn cát khô hạn, sản xuất chưa

   thuận lợi, làm cho đời sống dân cư thiếu ổn định.

       

·        Sông ngòi: Quảng Trị có hệ thống sông ngòi khá dày đặc, mật độ trung bình 0,8-1 km/km2. Do đặc điểm địa hình bề ngang hẹp, có dãy Trường Sơn núi cao ở phía Tây nên các sông của Quảng Trị có đặc điểm chung là ngắn và dốc. Toàn tỉnh có 12 con sông lớn nhỏ, tạo thành 03 hệ thống sông chính là sông Bến Hải, sông Thạch Hãn và sông Ô Lâu (Mỹ Chánh).

 

*** Hệ thống sông Bến Hải bắt nguồn từ khu vực động Châu có độ cao 1.257 m, có chiều dài 65 km. Sông Bến Hải đổ ra biển ở Cửa Tùng

 

*** Hệ thống sông Thạch Hãn có chiều dài 155 km, diện tích lưu vực lớn nhất 2.660 km2. Nhánh sông chính là Thạch Hãn bắt nguồn từ các dãy núi lớn Động Sa Mui, Động Voi Mẹp (nhánh Rào Quán) và động Ba Lê, động Dang (nhánh Đakrông). Sông Thạch Hãn đổ ra biển ở Cửa Việt.

 

*** Hệ thống sông Ô Lâu (sông Mỹ Chánh).Được hợp bởi hai nhánh sông chính là Ô Lâu ở phía Nam và sông Mỹ Chánh ở phía Bắc. Diện tích lưu vực của hai nhánh sông khoảng 900 km2, chiều dài 65 km. Sông đổ ra phá Tam Giang thuộc địa phận tỉnh Thừa Thiên Huế.

 

*** Ngoài ra, ở phía Tây giáp biên giới Việt - Lào có một số sông nhánh chảy theo hướng Tây thuộc hệ thống sông Mê Kông. Các nhánh điển hình là sông Sê Pôn đoạn cửa khẩu Lao Bảo - A Đớt, sông Sê Păng Hiêng đoạn đồn biên phòng Cù Bai, Hướng Lập (Hướng Hóa).

 

*** Hệ thống suối phân bố dày đặc ở vùng thượng nguồn. Các thung lũng suối phần lớn rất hẹp, độ dốc lớn tạo ra nhiều thác cao hàng trăm mét và phân bậc phức tạp. Nhìn chung, hệ thống sông suối của Quảng Trị phân bố đều khắp, điều kiện thủy văn thuận lợi cung cấp nguồn nước dồi dào phục vụ cho sản xuất và đời sống, đồng thời có tiềm năng thủy điện cho phép xây dựng một số nhà máy thuỷ điện với công suất vừa và nhỏ.

 

·         Hành chánh: gồm 10 đơn vị: 1 thành phố (Đông Hà), 1 thị xã (Quảng Trị) và 8 huyện.

 

·        Khí hậu: Quảng Trị nằm trong vùng khí hậu nhiệt đới gió mùa, có nền nhiệt độ cao, có khí hậu khá khắc nghiệt, chịu ảnh hưởng của gió Tây Nam khô nóng thổi mạnh từ tháng 3 đến tháng 9 thường gây nên hạn hán. Từ tháng 10 đến tháng 2 năm sau chịu ảnh hưởng của gió mùa Đông Bắc kèm theo mưa nên dễ gây nên lũ lụt. Quảng Trị nằm trong khu vực chịu nhiều ảnh hưởng của bão. Mùa bão thường tập trung vào các tháng 9 và 10. Bão có cường suất gió mạnh kèm theo mưa lớn tạo ra lũ quét ảnh hưởng nghiêm trọng đến sản xuất nông nghiệp và đời sống dân cư. Nhiệt độ trung bình năm từ 240-250C ở vùng đồng bằng, 220-230C ở độ cao trên 500 m. Mùa lạnh có 3 tháng (12 và 1, 2  năm sau), nhiệt độ xuống thấp, tháng lạnh nhất nhiệt độ xuống dưới 220C ở đồng bằng, dưới 200C ở độ cao trên 500 m. Mùa nóng từ tháng 5 đến tháng 8 nhiệt độ cao trung bình 280C, tháng nóng nhất từ tháng 6, 7, nhiệt độ tối cao có thể lên tới 400-420C. 

 

·     Dân s: toàn tỉnh cuối năm 2011 là 604 700 người phân bố trên diện tích 4739,8 km2, đông nhất là dân tộc Kinh, kế đó là Bru-Vân Kiều, Pa Cô, Hoa, Tà Ôi.

   

THẮNG CẢNH và DI TÍCH

 

Quảng Trị là tỉnh có khu phi quân sự vĩ tuyến 17, là giới tuyến chia cắt hai miền Nam - Bắc Việt Nam, do đó cũng là một chiến trường ác liệt nhất trong suốt 20 năm của cuộc Chiến tranh Việt Nam (1954 - 1975) nên đã để lại nhiều di tích mang dấu ấn của thời chiến tranh. Quảng Trị cũng có những bãi tắm nổi tiếng.

 

·         Cụm di tích đôi bờ Hiền Lương  bao gồm: cầu Hiền Lương, đồn Công an Hiền Lương, cột cờ Hiền Lương:

*** cầu Hiền Lương: bắc qua sông Bến Hải thuộc huyện Vĩnh Linh, tỉnh Quảng Trị. 
Cây cầu Hiền Lương chia cắt đôi bờ sông Bến Hải đã trở thành một chứng tích lịch sử về công cuộc kháng chiến vinh quang, hào hùng nhưng đầy gian khó của nhân dân Việt Nam..  Cầu chia làm hai phần, mỗi bên dài 89m, sơn hai màu khác nhau. Bờ Bắc gồm 450 tấm ván mặt cầu, bờ Nam 444 tấm. Hiện nay cây cầu cũ đã được phục chế nguyên dạng cây cầu giai đoạn năm 1952-1967, làm điểm đến tham quan của du khách 

*** đồn Công  An Hiền Lương:  nằm ở phía Bắc cầu Hiền Lương, đồn gồm 3 khu nhà: A,B và C tạo thành hình chữ V, vị trí giữa là cột cờ Hiền Lương. Đồn là chứng tích chiến tranh thể hiện sự gan dạ, mưu trí của các chiến sĩ công an giới tuyến. Hiện nay, đồn công an Hiền Lương được phục chế nguyên trạng, đáp ứng nguyện vọng của nhân dân đôi bờ cũng như nhu cầu tham quan của khách du lịch.

*** cột cờ Hiền Lương dựng trên bờ Bắc sông Bến Hải với ý nghĩa xây dựng một biểu tượng để nhân dân hai bờ có thể thấy được “sự vượt trội” của mỗi chế độ. Tại đây, liên tục từ năm 1954 đến 1967, đã diễn ra cuộc “chạy đua” độc đáo nhằm giành ưu thế về chiều cao của cột cờ và chiều rộng của lá cờ. 

 

 

  •      Địa đạo Vịnh Mốc thuộc huyện Vĩnh Linh, tỉnh Quảng Trị, cách quốc lộ 1A 13km về phía đông, cách Cửa Tùng 6km về phía bắc. Địa đạo dài gần 2km gồm 3 tầng sâu dưới mặt đất. Nơi đây từng là pháo đài thép của miền Bắc trong suốt 7 năm liền (1966-1972) chống chiến tranh phá hoại của đế quốc Mỹ. Địa đạo được thiết kế như một làng dưới mặt đất với 94 căn hộ gia đình, có giếng nước ngọt đáp ứng sinh hoạt của người dân địa đạo, có hội trường đủ sức chứa khoảng 60 người, bảng tin, nhà hộ sinh, nhà vệ sinh, phòng phẫu thuật, bếp Hoàng Cầm, kho gạo, trạm đặt máy điện thoại, đài quan sát, trạm gác, hầm tránh bom khoan.

 

 

 

Cảnh sinh hoạt tái hiện lại trong địa đạo

 

  •     Đường mòn Hồ Chí Minh: là mạng lưới giao thông quân sự chiến lược chạy từ lãnh thổ Việt Nam Dân chủ Cộng hòa vào tới lãnh thổ Việt Nam Cộng hòa, đi qua miền Trung Việt Nam, hạ Lào, và Campuchia. Hệ thống này cung cấp binh lực, lương thực và vũ khí khí tài để chi viện cho Quân Giải phóng miền Nam và Quân đội Nhân dân Việt Nam trong 16 năm (1959–1975) của thời kỳ Chiến tranh Việt Nam.

 

  •      Nghĩa trang liệt sĩ Trường Sơn tọa lạc trên khu đồi Bến Tắt, cạnh đường quốc lộ 15, thuộc địa phận xã Vĩnh Trường, huyện Gio Linh; cách trung tâm tỉnh lỵ (TP Đông Hà) khoảng 38km về phía Tây bắc; cách quốc lộ 1A (ở đoạn thị trấn huyện lỵ Gio Linh) chừng hơn 20km về phía Tây bắc. Nghĩa trang liệt sỹ Trường Sơn là nơi quy tụ 10.333 phần mộ của các liệt sỹ được phân thành 10 khu vực chính trong khu phần đất mộ.

 

 

 

 

  •      Nhà tù Lao Bảo hay còn gọi là nhà đày Lao Bảo, thuộc khóm Duy Tân, Thị trấn Lao Bảo, huyện Hướng Hoá,là một trong năm nhà tù lớn nhất Đông Dương. Đây là nơi giam cầm nhiều nhà cách mạng cộng sản cốt cán mà sau này là lãnh đạo cao cấp của chính quyền nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam

 

 

  •      Khu căn cứ quân sự Khe Sanh: Khe Sanh nằm trên quốc lộ số 9 thuộc huyện Hướng Hoá, tỉnh Quảng Trị, cách thị xã Đông Hà 63km về phía tây nằm trong một thung lũng đất đỏ cao hơn mặt nước biển 400m, bốn bề là đồi núi trùng điệp. Đây là một trong ba "mắt thần" (Khe Sanh, Làng Vây và Tà Cơn) của hàng rào điện tử Mac Namara. Tại Khe Sanh đã diễn ra những trận đánh lớn trong chiến dịch Đường 9 - Khe Sanh năm 1968, chiến dịch Đường 9 - Nam Lào năm 1971. Cụm căn cứ Tà Cơn với sân bay dã chiến đang lưu giữ nhiều hạng mục về trận đánh năm 1968: nhà trưng bày, giao thông hào, hầm chỉ huy, hàng rào kẽm gai, đường băng, máy bay, pháo, xe tăng và nhiều hạng mục hạ tầng khác.

 

 

      

  •      Thành cổ Quảng Trị: nằm ở trung tâm thị xã Quảng Trị, là 1 hệ thống thành lũy quân sự và trụ sở hành chính dưới thời nhà Nguyễn. Từ năm 1929, Pháp xây dựng thêm nhà lao ở đây và biến nơi đây thành nơi giam cầm các những người có quan điểm chính trị đối lập. Tại nơi đây đã có những trận đánh lớn trong thời kỳ chiến tranh Việt Nam trong các năm 1968, 1972. Sau chiến dịch Thành Cổ " mùa hè đỏ lửa" 1972 toàn bộ Thành Cổ gần như bị san phẳng nay đã được tôn tạo lại thành để làm di tích, ngay trung tâm thành được xây một đài tưởng niệm ghi dấu ấn 81 ngày đêm năm 1972.

 

 

  •      Các bãi tắm:

*** Bãi tắm Cửa Việt cách thành phố Đông Hà 15 km về phía Đông Nam, đây là bãi tắm có diện tích rộng gần cảng lớn, nước sạch, bãi cát thoai thoải dài theo những rặng dương xanh ven biển. Bãi biển Cửa Việt nằm ở Bắc Cửa Việt thuộc địa phận thôn Tân Lợi, xã Gio Việt, huyện Gio Linh cách đường xuyên Á khoảng 1km về phía Bắc.

 

 

*** Bãi tắm Cửa Tùng  là vùng bãi biển trải dài gần 1 km nằm ở thôn An Đức, xã Vĩnh Quang, huyện Vĩnh Linh. Đây là một vịnh nhỏ ăn sâu vào chân dải đất đồi bazan chạy sát biển gọi là Bãi Lay. Kề sát phía Nam bãi biển là cửa của dòng sông Hiền Lương. 

Cửa Tùng lại là nơi hiền hòa, kín gió, tàu thuyền đánh cá của ngư dân có thể neo đậu an toàn. Dưới thời Pháp thuộc, thấy khí hậu ở đây mát mẻ hiền hòa, người Pháp đã sử dụng Cửa Tùng làm nơi nghỉ ngơi, tắm biển, giải trí. Lúc đầu, Pháp lập một đồn lính, xung quanh đào hào đắp lũy và dựng trại cho lính ở. Quân Pháp ở đây được hai năm rồi rút dần, chỉ để lại nền đồn cao nhường chỗ cho một nhà nghỉ mát.
Trong cuộc kháng chiến chống Mỹ, Cửa Tùng là một trong những trọng điểm đánh phá ác liệt của địch bởi đây vừa là vùng giới tuyến, vừa là cầu tiếp vận cho bộ đội ở Cồn Cỏ. Bom đạn của địch đã tàn phá mọi công trình đã có từ trước trên bờ biển Cửa Tùng.

 

 

  LIÊN KẾT WEBSITE

  THỐNG KÊ TRUY CẬP

Trực tuyến 31
Hôm nay 527
Trong tháng 71273
Tổng truy cập 6193324