HÀ NỘI

Cập nhật ngày: 11:36:53 26-06-2013 Lượt xem: 1 (lần)

Hà Nội là thủ đô của Việt Nam, nằm chếch về phía tây bắc của trung tâm vùng đồng bằng sông Hồng trù phú, tiếp giáp với các tỉnhThái Nguyên, Vĩnh Phúc ở phía Bắc, Hà Nam, Hòa Bình phía Nam, Bắc Giang, Bắc Ninh và Hưng Yên phía Đông, Hòa Bình cùng Phú Thọ phía Tây. Hà Nội cách thành phố cảng Hải Phòng 100 km. Sau đợt mở rộng địa giới hành chính vào tháng 8 năm 2008, Hà Nội là thành phố đứng đầu cả nước về diện tích và là đô thị loại đặc biệt của Việt Nam. 

 Từ những buổi đầu của lịch sử Việt Nam, Hà Nội đã sớm trở thành một trung tâm chính trị và tôn giáo. Năm 1010, Lý Công Uẩn, vị vua đầu tiên của nhà Lý, quyết định xây dựng kinh đô mới ở vùng đất này với cái tên Thăng Long. Trong suốt thời kỳ của các triều đại Lý, Trần, Lê, Mạc, kinh thành Thăng Long là nơi buôn bán, trung tâm văn hóa, giáo dục của cả miền Bắc. Trải qua hai cuộc chiến tranh, Hà Nội là thủ đô của miền Bắc rồi nước Việt Nam thống nhất và giữ vai trò này cho tới ngày nay với vị trí là trung tâm chính trị, kinh tế của cả nước. Hà Nội là nơi tập trung các cơ quan đầu não của Trung ương Ðảng, Nhà nước, các đoàn thể xã hội, các sứ quán của trên 150 nước, các tổ chức quốc tế...

 

 

•  Địa hình: Nhờ phù sa bồi đắp, 3/4 diện tích tự nhiên của Hà Nội là đồng bằng với độ cao trung bình từ 5 đến 20 mét so với mực nước biển.Còn lại chỉ có khu vực đồi núi ở phía bắc và phía Tây Bắc của huyện Sóc Sơn thuộc rìa phía nam của dãy núi Tam Đảo có độ cao từ 20m đến trên 400m.  Địa hình Hà Nội thấp dần theo hướng từ Bắc xuống Nam và từ Tây sang Đông  Dạng địa hình chủ yếu của Hà Nội là đồng bằng được bồi đắp bởi các dòng sông với các bãi bồi hiện đại, bãi bồi cao và các bậc thềm. Xen giữa các bãi bồi hiện đại và các bãi bồi cao còn có các vùng trũng với các hồ, đầm (dấu vết của các lòng sông cổ). Riêng các bậc thềm chỉ có ở phần lớn huyện Sóc Sơn và ở phía bắc huyện Đông Anh, nơi có địa thế cao trong địa hình của Hà Nội. Ngoài ra, Hà Nội còn có các dạng  địa hình núi và đồi xâm thực tập trung ở khu vực đồi núi Sóc Sơn với diện tích không lớn lắm.

•  Sông ngòi: Hà Nội là thành phố gắn liền với những dòng sông. Sông Hồng là con sông chính của thành phố. Đoạn sông Hồng chảy qua Hà Nội dài 163 km, chiếm khoảng một phần ba chiều dài của con sông này trên đất Việt Nam (556km) Hà Nội còn có Sông Đà là ranh giới giữa Hà Nội với Phú Thọ, hợp lưu với dòng sông Hồng ở phía Bắc thành phố. Ngoài ra, trên địa phận Hà Nội còn nhiều sông nhỏ khác.

Hà Nội cũng là một thành phố đặc biệt nhiều đầm hồ.Trong khu vực nội thành, hồ Tây có diện tích lớn nhất, khoảng 500 ha, đóng vai trò quan trọng trong khung cảnh đô thị, ngày nay được bao quanh bởi nhiều khách sạn, biệt thự. Hồ Gươm nằm ở trung tâm lịch sử của thành phố, khu vực sầm uất nhất, luôn giữ một vị trí đặc biệt đối với Hà Nội. Trong khu vực nội ô có thể kể tới những hồ nổi tiếng khác như Trúc Bạch, Thiền Quang, Thủ Lệ... Ngoài ra, còn nhiều đầm hồ lớn nằm trên địa phận Hà Nội.

 Hành chánh: có 29 đơn vị, gồm 10 quận, 18 huyện, 1 thị xã (Sơn Tây)

•  Khí hậu: Khí hậu Hà Nội tiêu biểu cho vùng Bắc Bộ với đặc điểm của khí hậu cận nhiệt đới ẩm, mùa hè nóng, mưa nhiều và mùa đông lạnh, ít mưa về đầu mùa và có mưa phùn về nửa cuối mùa. Mùa nóng kéo dài từ tháng 5 tới tháng 9, kèm theo mưa nhiều, nhiệt độ trung bình 28,1oC. Từ tháng 11 tới tháng 3 năm sau là mùa đông với nhiệt độ trung bình 18,6oC.

Đặc điểm khí hậu Hà Nội rõ nét nhất là sự thay đổi và khác biệt của hai mùa nóng, lạnh. Giữa hai mùa đó lại có hai thời kỳ chuyển tiếp (tháng 4 và tháng 10) cho nên có thể nói rằng Hà Nội có đủ bốn mùa Xuân, Hạ, Thu, Đông. Bốn mùa thay đổi như vậy đã làm cho khí hậu Hà Nội thêm phong phú, đa dạng, mùa nào cũng đẹp, cũng hay.   

•  Dân số: vào cuối năm 2011, toàn thành phố có 6 699 600 người phân bố trên diện tích 3328,9 km2.

 

THẮNG CẢNH và DI TÍCH

So với các tỉnh, thành phố khác của Việt Nam, Hà Nội là một thành phố có tiềm năng để phát triển du lịch. Trong các quận nội thành cũng như trong các huyện ngoại thành, Hà Nội sở hữu một hệ thống bảo tàng đa dạng, các công trình kiến trúc, các ngôi đền, chùa cổ, các trung tâm mua sắm, các khu vui chơi giải trí.
Thành phố cũng có nhiều lợi thế trong việc giới thiệu văn hóa Việt Nam với du khách nước ngoài thông qua các nhà hát sân khấu dân gian, các làng nghề truyền thống...
 

·         Hệ thống bảo tàng

 

*** Bảo tàng Lịch sử  quốc gia ở số 1 đường Tràng Tiền, phía sau Nhà hát Thành phố, nơi đây nguyên là nhà bảo tàng của trường Viễn Đông Bác Cổ do người Pháp lập ra nǎm 1932. Đây là một trong những bảo tàng được thành lập sớm nhất trên cơ sở kế thừa cơ sở vật chất của Bảo tàng Loui Finô (Louis Finot) - một bảo tàng thuộc Trường Viễn Đông Bác cổ Pháp, xây dựng năm 1926, khánh thành năm 1932. Năm 1958, Chính phủ Việt Nam chính thức tiếp quản công trình văn hóa này và xúc tiến nghiên cứu, sưu tầm, bổ sung tài liệu hiện vật, chuyển đổi nội dung từ bảo tàng nghệ thuật thành bảo tàng lịch sử. Hơn 2000 hàng nghìn hiện vật được trưng bày theo thứ tự thời gian trong 2 tầng. Đây là pho sử bằng hiện vật, đã kể lại một cách sinh động cho người tham quan hiểu biết thêm về lịch sử giữ nước và dựng nước của người Việt Nam từ thuở ban đầu khai sáng đến ngày ra đời nước Việt Nam Dân chủ cộng hoà nǎm 1945.

 

 

       

*** Bảo tàng Hồ Chí Minh tọa lạc tại số 3 Ngọc Hà, quận Ba Đình ở khu vực quảng trường Ba Ðình, bên cạnh lăng Chủ tịch Hồ Chí Minh. Bảo tàng khánh thành ngày 19/5/1990 nhân kỷ niệm lần thứ 100 ngày sinh Chủ tịch Hồ Chí Minh. 

Ðây là tòa nhà cao 20,5m gồm 4 tầng với tổng diện tích sử dụng là 10.000m². Công trình được thiết kế như một bông hoa sen nở, tượng trưng cho phẩm chất thanh cao, trong sáng của Hồ Chủ tịch.

Phần trưng bày của Bảo tàng rộng gần 4.000m2 giới thiệu hơn 117.274 hiện vật gốc, hình ảnh phản ánh cuộc đời và sự nghiệp của Chủ tịch Hồ Chí Minh, gắn liền với các sự kiện lịch sử quan trọng của Việt Nam và thế giới từ cuối thế kỷ thứ 19 đến nay.

 

 

*** Bảo tàng Cách Mạng tọa lạc tại số 5 đường Tông Đản, được thành lập tháng 8/1959 tại ngôi nhà 2 tầng phố Tông Ðản nguyên là Sở thương chính cũ, nay được cải tạo thành 30 phòng trưng bày với hơn 40 000 hiện vật: phòng đầu giới thiệu chung về đất nước và con người Việt Nam, phòng cuối giới thiệu về tình đoàn kết và các quan hệ ngoạI giao giữa Thế giới với Việt Nam.

Các phòng còn lại giới thiệu về:

         Các phong trào giảI phóng của dân tộc Việt Nam chống quân Pháp xâm lược trước khi Ðảng Cộng sản Việt Nam thành lập (1858 - 1930).

         Cuộc đấu tranh giành độc lập của dân tộc Việt Nam dưới sự lãnh đạo của Ðảng Cộng sản (1930 - 1975).

        • Giai đoạn xây dựng và bảo vệ nước Cộng hoà Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam (1976 -1994).

 

 

*** Bảo tàng Dân tộc Học ở đường Nguyễn Văn Huyên, quận Cầu Giấy là một viện bảo tàng về lĩnh vực dân tộc học của Việt Nam, trực thuộc Viện Khoa học Xã hội Việt Nam. Công trình Viện Bảo tàng Dân tộc học do kiến trúc sư Hà Đức Lịnh, người Tày thiết kế. Nội thất được thiết kế bởi nữ kiến trúc sư Véronique Dollfus (người Pháp)

Bảo tàng gồm ba khu trưng bày chính:

     + Khu trưng bày trong tòa Trống Đồng:

     + Không gian trưng bày thường xuyên giới thiệu 54 dân tộc ở Việt Nam trải rộng trên 2 tầng của toàn nhà; 2 không gian giành cho các trưng bày nhất thời, luôn luôn được đổi mới tuỳ theo chủ đề trưng bày

     + Khu trưng bày ngoài trời: là một vườn cây xanh trong đó có 10 công trình dân gian với các loại hình kiến trúc khác nhau.

 

*** Bảo tàng Lịch sử quân sự ở số 30 đường Điện Biên Phủ, nơi trước đây là trại lính của quân đội  viễn chinh Pháp đã được sửa chữa lại trên diện tích 10.000m2 và diện tích trưng bày là 2.000m2 gồm 30 phòng, trưng bày những hiện vật và tài liệu giới thiệu quá trình ra đời và trưởng thành của các lực lượng vũ trang nhân dân Việt Nam qua các thời kỳ lịch sử qua 4 nội dung trưng bày chính:

     + Hiện vật về truyền thống đánh giặc giữ nước của các thời đại trước.

     + Thời kỳ thành lập Quân đội nhân dân Việt Nam, thời kỳ tiền khởi nghĩa với những vũ khí thô sơ.

     + Giai đoạn trưởng thành của Vệ quốc đoàn và Quân đội nhân dân Việt Nam thời kỳ 1946-1954, với những vũ khí, trang bị, sa bàn, bản đồ của các trận đánh lớn, đặc biệt là những hiện vật về chiến dịch Điện Biên Phủ.

     + Quân đội nhân dân Việt Nam trong thời kỳ chống Mỹ cứu n­ước đến năm 1975. 

Đặc biệt có những bản đồ, những sa bàn về chiến dịch Hồ Chí Minh lịch sử. Những hiện vật quý về các trận đánh và những chiến sỹ anh hùng trong lực lượng vũ trang được trưng bày tại đây. Bên ngoài nhà trưng bày là những hiện vật lớn: những vũ khí nặng thu được của địch, những mảnh xác máy bay Mỹ bị bắn rơi, trong đó có mảnh xác máy bay B52...

 

 

*** Bảo tàng chiến thắng B52 ở số 157 phố Đội Cấn, quận Ba Đình. Bảo tàng trưng bày các vũ khí lập công của quân và dân Thủ đô trong trận "Điện Biên Phủ trên không" năm 1972, xác máy bay B52 và lưu giữ hình ảnh hiện vật về tinh thần quyết chiến, quyết thắng, mưu trí, sáng tạo của quân và dân Thủ đô.

 

*** Bảo tàng Phụ Nữ Việt Nam ở số 36 Lý Thường Kiệt, quận Hoàn Kiếm, là nơi trưng bày, gìn giữ bảo quản các tài liệu, hiện vật giới thiệu vai trò, thành tựu của phụ nữ Việt Nam trong quá trình phát triển của dân tộc. Tòa nhà cũng được sử dụng làm nơi giao lưu văn hoá giữa phụ nữ Việt Nam và phụ nữ thế giới vì mục tiêu Bình đẳng - Phát triển và Hoà bình.

Với diện tích trưng bày khoảng 1.200m² trong hai khối nhà lớn liên hoàn, bảo tàng giới thiệu 5 chuyên đề:

           * Phụ nữ Việt Nam trong cộng đồng các dân tộc Việt Nam.

           * Phụ nữ Việt Nam trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc.

           * Hội Liên hiệp phụ nữ Việt Nam và sự nghiệp đấu tranh giải phóng phụ nữ.

           * Nét văn hoá của phụ nữ Việt Nam qua những sản phẩm thủ công truyền thống.

           * Trang phục phụ nữ các dân tộc Việt Nam.

 

Phòng trưng bày trang phục phụ nữ 3 miền Việt Nam

 

*** Bảo tàng Mỹ thuật tọa lạc tại  số 66 đường Nguyễn Thái Học, ngôi nhà trước kia là nơi dành cho con gái của các quan chức người Pháp từ khắp Đông Dương về Hà Nội trọ học, từ ngày 24/6/1966 chính thức trở thành viện Bảo tàng Mỹ thuật Việt Nam, với khoảng 10 000 tác phẩm (hiện vật gốc, hiện vật phục chế, phiên bản, tranh ảnh) được trưng bày tại 16 phòng với các nội dung:

     - Mỹ thuật các dân tộc trong đại gia đình tổ quốc Việt Nam

     - Mỹ thuật Việt Nam thời đại nguyên thuỷ và cổ đại (thời đại đá mới, thời đại đồ đồng và sơ kỳ đồ sắt)

     - Mỹ thuật Việt Nam thời phong kiến (thế kỷ 11 - 18)

     - Nghệ thuật điêu khắc cổ Việt Nam (những tác phẩm tiêu biểu từ thế kỷ 11 đến thế kỷ 19).

     - Tranh dân gian Việt Nam

     - Công nghệ Mỹ thuật Việt Nam hiện đại

     - Mỹ thuật Việt Nam trước Cách mạng Tháng 8/ 1945

     - Mỹ thuật Việt Nam giai đoạn chống Pháp (1946 - 1954)

     - Mỹ thuật Việt Nam từ năm 1954 đến nay.

 

*** Bảo tàng Hà Nội: Bảo tàng Hà Nội cũ  nằm ở số 5B phố Hàm Long, quận Hoàn Kiếm, Hà Nội, là nơi trưng bày giới thiệu về thủ đô Hà Nội từ khi dựng nước đến nay, được thành lập từ năm 1982, số lượng hiện vật của bảo tàng lên tới hàng chục ngàn, trong đó riêng kho cổ vật quý hiếm đã chiếm tới hơn 7 ngàn. Bộ sưu tập của bảo tàng bao gồm đồ đá, đồ đồng, gốm sứ các thời nhà Lý, Trần, Lê, Nguyễn, gốm sứ của Trung Quốc, Nhật Bản.

Để kỷ niệm đại lễ 1000 năm Thăng Long - Hà Nội, một bảo tàng mới đã được xây dựng trong khu vực Trung tâm Hội nghị Quốc gia Việt Nam tại Mỹ Đình, xã Mễ Trì, huyện Từ Liêm, Hà Nội.

Bảo tàng mới có kết cấu hình kim tự tháp ngược, trong đó tầng 4 có diện tích lớn nhất, các tầng dưới nhỏ dần, được xây dựng trên tổng diện tích khoảng 54.000m2, cao 30,7 mét. Công trình gồm 4 tầng nổi và 2 tầng hầm; diện tích xây dựng khoảng 12.000 m2, diện tích sàn hơn 30.000m2 (kể cả tầng hầm và tầng mái).

Bảo tàng đã được khánh thành vào ngày 6 tháng 10 năm 2010. Tất cả các hiện vật đã được chuyển tử Bảo tàng cũ sang Bảo tàng mới.

Phần trưng bày của bảo tàng ngày nay được chia thành 3 phần:

  •     Lịch sử thiên nhiên Hà Nội  
  •      Lịch sử Hà Nội từ khi dựng nước đến trước Cách mạng tháng Tám;
  •      Lịch sử Hà Nội từ sau Cách mạng tháng Tám năm 1945 đến nay

 

·         Công trình kiến trúc qua các thời kỳ

 

 *** Hoàng Thành Thăng Long  là quần thể di tích gắn với lịch sử kinh thành Thăng Long -Hà Nội bắt đầu từ thời kỳ từ tiền Thăng Long qua thời Đinh - Tiền Lê, phát triển mạnh dưới thời Lý, Trần, Lê và thành Hà Nội dưới triều Nguyễn. Đây là công trình kiến trúc đồ sộ, được các triều vua xây dựng trong nhiều giai đoạn lịch sử và trở thành di tích quan trọng bậc nhất trong hệ thống các di tích Việt Nam.

Ngày 1/08/2010 UNESCO  đã thông qua nghị quyết công nhận khu Trung tâm hoàng thành Thăng Long - Hà Nội là di sản văn hóa thế giới. Những giá trị nổi bật toàn cầu của khu di sản này được ghi nhận bởi 3 đặc điểm nổi bật: chiều dài lịch sử văn hóa suốt 13 thế kỷ; tính liên tục của di sản với tư cách là một trung tâm quyền lực, và các tầng di tích di vật đa dạng, phong phú.

 

*** Cột cờ Hà Nội là di tích được xây dựng năm 1812 dưới triều Gia Long cùng lúc xây thành Hà Nội theo kiểu Vauban. Cột cờ cao 60 m, gồm có chân đế, thân cột và vọng canh. Các tầng đế hình chóp vuông cụt, nhỏ dần, chồng lên nhau, xung quanh xây ốp gạch. Hiện Cột cờ Hà Nội nằm trong khuôn viên của Bảo tàng Lịch sử Quân sự Việt Nam (trước đây là Bảo tàng Quân đội), trên đường Điện Biên Phủ, quận Ba Đình.

 

 

*** Văn Miếu- Quốc Tử Giám được xây dựng từ năm 1070. Quần thể kiến trúc Văn Miếu - Quốc Tử Giám bao gồm: hồ Văn, khu Văn Miếu - Quốc Tử Giám và vườn Giám, mà kiến trúc chủ thể là Văn Miếu - nơi thờ Khổng Tử và Quốc Tử Giám - trường đại học đầu tiên của Việt Nam, bao gồm 5 lớp không gian với các kiến trúc khác nhau. Mỗi lớp không gian đó được giới hạn bởi các tường gạch có 3 cửa để thông với nhau (gồm cửa chính giữa và hai cửa phụ hai bên). 82 bia tiến sĩ trong Văn Miếu đã được UNESCO công nhận là di sản tư liệu thế giới năm 2010.

 

 

 

*** Khu di tích Phủ Chủ tịch, là nơi sống và làm việc lâu nhất trong cuộc đời hoạt động cách mạng của Chủ tịch Hồ Chí Minh gồm 1 số công trình có giá trị lớn: nhà sàn được phục chế theo nhà sàn - nơi Chủ tịch Hồ Chí Minh đã ở từ 1958 đến 1969, nhà 54 - nơi Chủ tịch Hồ Chí Minh đã ở và làm việc từ 1954 đến 1958, phòng họp Bộ Chính trị - nơi quyết định cuộc Tấn công và nổi dậy Xuân 1968, nhà 67 - nơi họp Bộ Chính trị, cũng là nơi Bác Hồ dưỡng bệnh và qua đời, giàn hoa, đường Xoài - con đường mà Bác Hồ thường đi bách bộ sau giờ làm việc và tập thể dục buổi sáng, ao cá với diện tích 3.320m2.

 

 

 

*** Lăng Chủ tịch Hồ Chí Minhhay còn gọi là Lăng Hồ Chủ tịch, Lăng Bác, là nơi đặt thi hài của chủ tịch Hồ Chí Minh. Lăng Chủ tịch Hồ Chí Minh được chính thức khởi công ngày 2 tháng 9 năm 1973, tại vị trí của lễ đài cũ giữa Quảng trường Ba Đình, nơi ông đã từng chủ trì các cuộc mít tinh lớn. Lăng được khánh thành vào ngày 29 tháng 8 năm 1975

 

***  Nhà thờ Lớn Hà Nội  (tên chính thức: Nhà thờ chính tòa Thánh Giuse) tọa lạc tại số 40 phố Nhà Chung, quận Hoàn Kiếm, là một nhà thờ cổ tại Hà Nội, thường xuyên diễn ra các sinh hoạt tín ngưỡng của các giáo dân thuộc tổng giáo phận Hà Nội. Khánh thành từ 1887, nhà thờ được thiết kế theo phong cách kiến trúc Gothic trung cổ châu Âu, rất thịnh hành trong thế kỷ 12 và thời Phục Hưng ở châu Âu, làm theo mẫu của Nhà thờ Đức Bà Paris với những mái vòm uốn cong, rộng, hướng lên bầu trời. Vật liệu xây dựng chính của nhà thờ là gạch đất nung, tường trát bằng giấy bổi. Nhà thờ có chiều dài 64,5m, chiều rộng 20,5m và hai tháp chuông cao 31,5m với những trụ đá to nặng bốn góc. Trên đỉnh là cây thánh giá bằng đá.  

 

    

 

*** Nhà hát Lớn Hà Nội  là một công trình kiến trúc phục vụ biểu diễn nghệ thuật tọa lạc trên quảng trường Cách mạng tháng Tám, vị trí đầu phố Tràng Tiền. Công trình được người Pháp khởi công xây dựng năm 1901 và hoàn thành năm 1911, theo mẫu Nhà hát Opéra Garnier ở Paris nhưng mang tầm vóc nhỏ hơn và sử dụng các vật liệu phù hợp với điều kiện khí hậu địa phương.

Ngay từ khi hoàn thành, Nhà hát Lớn đã giữ vai trò một trong những trung tâm văn hóa quan trọng của thủ đô, nơi diễn ra thường xuyên các hoạt động văn hóa, biểu diễn nghệ thuật. Nhà hát Lớn là nơi khai sinh và tôn vinh kịch nghệ cùng sân khấu Việt Nam, cũng như các loại hình nghệ thuật giao hưởng, hợp xướng, nhạc kịch, vũ kịch. Có thể tìm thấy ở bề ngoài của công trình nhiều phong cách kiến trúc khác nhau. Cũng như nhiều công trình kiến trúc và cả những loại hình văn hóa phi vật thể khác, nhà hát Lớn Hà Nội trở thành minh chứng cho một giai đoạn lịch sử của thành phố, thời kỳ mà các nền văn hóa giao thoa lẫn nhau.

 

 

    Đền, chùa cổ: với bề dày ngàn năm lịch sử, Hà nội có nhiều ngôi đền và chùa ở cả khu vực nội thành cũng như ngoại thành.

 

KHU VỰC NỘI THÀNH

 

*** Đền Ngọc Sơn và cụm di tích hồ Hoàn Kiếm:

 

 

Đền Ngọc Sơn là một ngôi đền thờ nằm trên đảo Ngọc của hồ Hoàn Kiếm, Ngôi đền này được xây dựng trên nền của cung khánh Thụy do trịnh Giang (thế kỷ XVII) xây dựng ở dải đất xưa gọi là đảo Ngọc làm nơi nhà chúa ra hóng mát vào mùa hè.

Đền hiện nay được xây dựng từ thế kỷ 19. Lúc đầu được gọi là chùa Ngọc Sơn, sau đổi gọi là đền Ngọc Sơn. Trong đền thờ thần Văn Xương Đế Quân là ngôi sao chủ việc văn chương khoa cử, Lã Đồng Tân là vị thần của Đạo Giáo, Quan Vân Trường là biểu tượng cho lòng nghĩa hiệp và Trần Hưng Đạo, vị anh hùng có công phá quân Nguyên thế kỷ 13.

 

Tháp Bút

Đi từ ngoài vào sẽ gặp tháp bút, đài nghiên, cầu Thê Húc. Tháp rùa ở giữa hồ Hoàn Kiếm, tên gọi của hồ gắn với truyền thuyết vua Lê Thái Tổ trả gươm báu cho Rùa thần.

 

Cầu Thê Húc

 

*** Đền Quán Thánh nằm trên đất phường Quán Thánh, quận Ba Đình, cạnh bên Hồ Tây và cửa Bắc Thành Hà Nội. Đây là một trong Thăng Long tứ trấn.

Tương truyền đền có từ đời Lý Thái Tổ (1010-1028), thờ thánh Trấn Vũ, vị thần trấn giữ phương Bắc. Vì thế, còn có tên là Đền Trấn Võ, Quan Thánh Trấn Võ, hay Quán Thánh.

 

Tượng Trấn Vũ trong đền Quán Thánh.

 

*** Đền Bạch Mã:  Bạch Mã là một trong tứ Trấn của kinh thành Thăng Long xưa, Đền Bạch Mã được xây dựng từ thế kỷ 9 để thờ thần Long Đỗ, vị thần trấn giử phía Đông. Năm 1010, khi Lý Thái Tổ dời  đô từ Hoa Lư ra Thăng Long, định đắp thành nhưng nhiều lần thành đắp lên lại bị sụp đổ. Vua cho người cầu khấn ở đền thờ thần Long Đỗ thì thấy một con ngựa trắng từ đền đi ra. Vua lần theo vết chân ngựa, vẽ đồ án xây thành, thành mới đứng vững. Thần được vua Lý Thái Tổ phong làm Thành hoàng của kinh thành Thăng Long.

***  Đình và đền Kim Liên (hay còn gọi là đền Cao Sơn) thờ Cao Sơn Đại Vương, vị thần trấn phía nam trong tứ trấn của kinh thành Thăng Long xưa. So với ba ngôi đền kia thì đền Kim Liên được xây dựng muộn hơn (khoảng thế kỷ 16-17).

*** Đền Voi Phục  là một ngôi đền trong Thăng Long tứ trấn của thành Thăng Long xưa. Ngôi đền đầu tiên được lập từ thời Lý Thái Tông (1028-1054) ở góc phía tây nam thành Thăng Long cũ thuộc địa phận làng Thủ Lệ nay là công viên Thủ Lệ. Thờ hoàng tử Linh Lang, con của vua Lý Thái Tông, và bà phi thứ 9 Dương Thị Quang, nhưng tương truyền vốn là con của Long Quân, tên gọi là Hoàng Châu, thác sinh, là người có công trong cuộc kháng chiến chống quân xâm lược nhà Tống, và đã hi sinh trên phòng tuyến sông Cầu vào năm 1076. Sau khi mất, được người dân Thủ lệ lập đền thờ và được nhà vua sắc phong là Linh Lang đại vương thượng đẳng phúc thần. Vì trước cửa đền có đắp 2 con voi quỳ gối nên quen gọi là đền Voi Phục và vì đền ở phía tây kinh thành nên còn gọi là trấn phươngTây.

*** Chùa Trấn Quốc: ở đường Thanh Niên, nằm trên một hòn đảo phía đông Hồ Tây (quận Tây Hồ), chùa có lịch sử 1500 năm, được coi là lâu đời nhất ở Thăng Long- Hà Nội (có từ thời Lý Nam Đế, thế kỷ thứ 6). Kiến trúc chùa có sự kết hợp hài hoà giữa tính uy nghiêm, cổ kính với cảnh quan thanh nhã giữa nền tĩnh lặng của một hồ nước mênh mang. Chùa là trung tâm Phật giáo của kinh thành Thăng Long vào thời Lý và thời Trần.

 

 

*** Chùa Một Cột: thuộc phố chùa Một Cột, quận Ba Đình, phía sau lăng Hồ Chủ tịch.Chùa được xây dựng đời nhà Lý đầu thế kỷ 11.  Ngôi chùa có kết cấu bằng gỗ, trong chùa đặt tượng Phật bà Quan Âm để thờ. Theo truyền thuyết, chùa được xây dựng theo giấc mơ của vua Lý Thái Tông (1028-1054) và theo gợi ý thiết kế của nhà sư Thiền Tuệ. Vào năm1049, vua đã mơ thấy được Phật bà Quan Âm ngồi trên tòa sen dắt vua lên toà. Khi tỉnh dậy, nhà vua kể chuyện đó lại với bày tôi và được nhà sư Thiền Tuệ khuyên dựng chùa, dựng cột đánh trong chiêm bao, làm toà sen của Phật bà Quan Âm đặt trên cột như đã thấy trong mộng.

 

 

*** Chùa Quán Sứ là một ngôi chùa ở số 73 phố Quán Sứ, quận Hoàn Kiếm,thành phố Hà Nội. Chùa được xây dựng vào thế kỷ 15. Đây đã từng là nơi để tiếp đón các sứ thần đến Thăng Long.

 

KHU VỰC NGOẠI THÀNH

 

*** Chùa Thầy là một ngôi chùa ở chân núi Sài Sơn, xã Sài Sơn, huyện Quốc Oai, Hà Nội, cách trung tâm Hà Nội khoảng 20 km về phía Tây nam, đi theo đường cao tốc Láng - Hòa Lạc. Sài Sơn có tên Nôm là núi Thầy, nên chùa được gọi là chùa Thầy. Chùa được xây dựng từ thời nhà Lý. Đây là nơi tu hành của Thiền sư Từ Đạo Hạnh, lúc này núi Thầy còn gọi là núi Phật tích.

 

 

 

 

*** Chùa Tây Phương (tên chữ là Sùng Phúc tự) là một ngôi chùa ở trên ngọn núi Tây Phương ở thôn Yên, xã Thạch Xá, huyện Thạch Thất, nằm cách trung tâm Hà Nội gần 40 km về phía Tây. Nơi đây tập trung những kiệt tác hiếm có của nghệ thuật điêu khắc tôn giáo bao gồm chạm trổ, phù điêu và tạc tượng.

 

*** Chùa Hương  hay Hương Sơn, cách Hà Nội 60 km về phía Tây Nam, là cả một quần thể văn hóa - tôn giáo Việt Nam, gồm hàng chục ngôi chùa thờ Phật, vài ngôi đền thờ thần, các ngôi đình, thờ tín ngưỡng nông nghiệp. Trung tâm chùa Hương nằm ở xã Hương Sơn, huyện Mỹ Đức, Hà Nội, nằm ven bờ phải sông Đáy. Trung tâm của cụm đền chùa tại vùng này chính là chùa Hương nằm trong động Hương Tích hay còn gọi là chùa Trong.

 

   

Động Hương Tích

 

*** Làng cổ Đường Lâm là một xã thuộc thị xã Sơn Tây,  nằm bên hữu ngạn sông Hồng, cách trung tâm Hà Nội 50km về phía Tây, cạnh quốc lộ 32. Nét đặc sắc là làng Đường Lâm vẫn giữ được hầu hết các đặc trưng cơ bản của một ngôi làng người Việt với cổng làng, cây đa, bến nước, sân đình, chùa, miếu, điếm canh, giếng nước, ruộng nước, gò đồi. Hệ thống đường xá của Đường Lâm rất đặc biệt  vì chúng có hình xương cá. Với cấu trúc này, nếu đi từ đình sẽ không bao giờ quay lưng vào cửa Thánh. Đặc trưng của nhà cổ truyền thống ở đây là tất cả đều được xây từ những khối xây bằng đá ong.

 

 

 

·         Trung tâm mua sắm

Ngoài các chợ truyền thống, Hà Nội hiện có các trung tâm thương mại hiện đại.

 

*** Khu phố cổ Hà Nội là tên gọi thông thường của một khu vực đô thị có từ lâu đời của Hà Nội nằm ở ngoàihoàng thành Thăng Long. Khu đô thị này tập trung dân cư hoạt động tiểu thủ công nghiệp và buôn bán giao thương, hình thành lên những phố nghề đặc trưng, mang những nét truyền thống riêng biệt của cư dân thành thị, kinh đô. Đặc trưng nổi tiếng nhất của khu phố cổ là các phố nghề. Thợ thủ công từ các làng nghề quanh Thăng Long xưa tụ tập về đây, tập trung theo từng khu vực chuyên làm nghề của mình. Các thuyền buôn có thể vào giữa phố để buôn bán trao đổi, khiến các phố nghề càng phát triển. Và chính sản phẩm được buôn bán trở thành tên phố, với chữ "Hàng" đằng trước, mỗi phố chuyên môn buôn bán một loại mặt hàng.

Hiện nay, một số phố vẫn còn giữ được sản phẩm truyền thống nhưng một số phố tuy không giữ nghề truyền thống, nhưng cũng tập trung chuyên bán một loại hàng hóa...

 

 

*** Chợ Đồng Xuân tọa lạc tại số 1 Phố Đồng Xuân, Quận Hoàn Kiếm. Đây là ngôi chợ lớn nhất của Hà Nội. Chợ ra đời từ năm 1889 trên địa phận phường Đồng Xuân. Ban đầu chợ họp ngoài trời, sau được xây thành chợ với năm cầu khung sắt, lợp tôn tráng kẽm, dài 52m, cao 19m. Nằm gần ga đầu cầu Long Biên bên sông Hồng, chợ Đồng Xuân là điểm thuận lợi để hàng hóa bốn phương dồn về đây cũng như từ đây tỏa đi các nơi. Ở chợ Đồng Xuân hầu như có đầy đủ tất cả các mặt hàng, ngành hàng phục vụ sinh hoạt và đời sống. Chợ Đồng Xuân là chợ bán buôn lớn nhất của miền bắc. Ngày nay chợ Đồng Xuân được xây dựng lại với quy mô lớn hơn gồm 3 tầng hiện đại, khang trang, rộng rãi nhưng vẫn giữ một phần kiến trúc của chợ cũ.

 

 

*** Trung Tâm thương Mại: Vincom, Tràng tiền Plaza, Ruby Plaza

 

  Khu vui chơi giải trí

         *** Các công viên rải đều trong thành phố, là nơi người dân Hà Nội có thể tập thể dục hoặc hóng mát: công viên Thống Nhất, Thủ Lệ, Hồ Tây.

         *** Vườn Bách Thảo: hay Công viên Bách Thảo là một công viên cây xanh nằm ở phía tây bắc thủ đô Hà Nội, được thành lập từ những năm đầu người Pháp đặt chân đến Việt Nam trong cuộc xâm lăng đô hộ và thuộc địa. Hiện nay vườn được ví như lá phổi xanh của Hà Nội, nơi những người yêu thiên nhiên được đắm mình trong màu xanh cây lá và những âm thanh của rừng, với những cây cổ thụ lớn bằng vòng tay mấy người ôm là chứng nhân của nhiều biến cố trong lịch sử thủ đô.

          *** Ao Vua: là một khu du lịch nổi tiếng nằm trong địa phận xã Tản Lĩnh, huyện Ba Vì và cách thủ đô Hà Nội khoảng 70 km về phía tây, có phong cảnh thiên nhiên hùng vĩ với nhiều núi non, khí hậu mát mẻ trong lành, có nhiều suối, thác và công trình nhân tạo... thích hợp với những kỳ nghỉ ngắn cuối tuần, dã ngoại.

         *** Đồng Mô: là một khu du lịch thuộc địa phận thị xã Sơn Tây và một phần huyện Ba Vì, cách Hà Nội hơn 40 km về phía Tây. Khu du lịch Đồng Mô bao gồm một hồ chứa nước rộng khoảng 200 ha, nằm trong vùng chân núi Ba Vì, các khu nghỉ dưỡng nằm rải rác trên các hòn đảo trên hồ. Khách du lịch tới đây được đi tham   quan lòng hồ, ngắm cảnh núi non hùng vỹ, sơn thủy hữu tình và các dịch vụ câu cá, ẩm thực theo phong cách dân tộc. Đặc biệt trong khu du lịch Đồng Mô có một sân golf nổi tiếng: Sân golf  Đồng Mô - 36 lỗ nằm trên các đảo ở giữa hồ Đồng Mô.

 

 

         *** Núi Ba Vì: nằm cách trung tâm thủ đô khoảng 50 km về phía Tây, với khí hậu núi cao trong lành và mát mẻ, Ba Vì được thiên nhiên ưu đãi  hệ sinh thái phong phú, thảm thực vật đa dạng, được coi là "lá phổi xanh" phía Tây thủ đô Hà Nội. Nơi đây có rất nhiều cảnh quan thiên nhiên tươi đẹp như: núi, đồi, rừng, thác, suối, sông, hồ cùng với các khu du lịch như: Khoang Xanh - Suối Tiên, Hồ Tiên Sa (gắn liền với truyền thuyết "Sơn Tinh - Thuỷ Tinh"), Thiên Sơn - Suối  Ngà, khu du lịch Tản Đà, Thác Đa, Hồ Suối Hai, Hồ Cẩm Quỳ, rừng nguyên sinh Bằng Tạ - Đầm Long, đồi cò Ngọc Nhị... Nơi có nhiều trang trại đồng quê, nhiều sản phẩm nông nghiệp phong phú. Có nguồn nước khoáng nóng thiên nhiên tại Thuần Mỹ rất thuận lợi cho phát triển du lịch nghỉ dưỡng.

 

         •  Nhà hát sân khấu dân gian

        Rối nước là một loại hình nghệ thuật sân khấu dân gian truyền thống độc đáo, ra đời từ nền văn hóa lúa nước. Từ một nghệ thuật mang yếu tố dân gian, múa rối nước đã trở thành một nghệ thuật truyền thống, một sáng tạo đặc biệt của người Việt. Ở Hà Nội, có thể xem rối nước ở 2 địa điểm:

         *** Rạp múa Rối nước Thăng Long, số 57B đường Đinh Tiên Hoàng, Quận Hoàn Kiếm với 1 sân khấu nhưng có lịch biểu diễn 4 xuất mỗi ngày .

         *** Rạp múa rối nước Trung Ương, số 361 đường Trường Chinh, Quận Thanh Xuân với ba sân khấu biểu diễn:

               >>>Thủy đình ngoài trời ( gần 400 chỗ ) chuyên biểu diễn múa rối nước truyền thống .

              >>> Rạp mới xây dựng với trang thiết bị hiện đại từ âm thanh ánh sáng đến các khu phụ cận , trong rạp có hai sân khấu : Một chuyên biểu diễn Rối Cạn  ( tầng 2 gần 300 chỗ ) , sân khấu tầng 1 ( gần 300 chỗ ) có thể biểu diễn tất cả các loại hình nghệ thuật khác ( Rối nước truyền thống , rối nước kết hợp với nghệ thuật đương đại , tạp kĩ … ) .

              >>> Bên cạnh đó là khu bảo tàng trưng bày , giới thiệu nguồn gốc xuất xứ của nghệ thuật Múa rối  Việt Nam (đặc biệt là Múa rối nước ) và một số hiện vật Múa rối các vùng miền , các phường rối dân gian ở Việt Nam

         •  Ca trù được định hình với tư cách là một thể loại ca nhạc có đặc trưng, phong cách riêng vào khoảng thế kỷ 15. Tuỳ từng địa phương, từng không gian diễn xướng mà hát. Ca trù còn được gọi là hát ả đào, hát cửa đình, hát cửa quyền, hát cô đầu, hát nhà tơ, hát nhà trò hay hát ca công. Ca trù được bắt nguồn từ dân ca, dân nhạc cùng với một số trò diễn và múa dân gian. Chính vì vậy, Ca trù là một bộ môn nghệ thuật tổng hợp với nét độc đáo là sự phối hợp đa dạng, tinh tế, nhuần nhuyễn giữa thi ca và âm nhạc, đôi khi có cả múa. Ca trù đã được UNESCO công nhận là Di sãn văn hóa phi vật thể cần bảo vệ khẩn cấp. Ở Hà Nội có thể thưởng thức ca trù ở 2 địa điểm:

*** Câu lạc bộ Ca trù Thăng Long biểu diễn ca trù từ 20g00 đến 21g00 tối thứ 3,5,7 hàng tuần tại nhà cổ số 87 đường Mã Mây, quận Hoàn Kiếm với các tiết mục như: “Non Nước” với nhạc cụ đàn Tranh; “Gửi thư”, “36 điệu”, “Hát ru”, “Hát nói”, “Tỳ bà hành” với nhạc cụ đàn Đáy, trống chầu…

*** Câu lạc bộ ca trù Hà Nội biểu diễn ca trù từ 20g00  đến 21g00 tối 4, 6 và chủ nhật hàng tuần tại số 42 đường Hàng Bạc, quận Hoàn Kiếm.

 

         Làng nghề truyền thống

 

*** Làng gốm Bát Tràng: Gốm Bát Tràng là tên gọi chung cho các loại đồ gốm được sản xuất tại làng Bát Tràng, thuộc xã Bát Tràng, huyện Gia Lâm, được sản xuất theo lối thủ công, thể hiện rõ rệt tài năng sáng tạo của người thợ lưu truyền qua nhiều thế hệ. Sản phẩm bao gồm đồ gốm gia dụng, đồ gốm dùng làm đồ thờ cúng và đồ trang trí.

 

*** Làng lụa Vạn Phúc hay còn gọi là Làng lụa Hà Đông, nay thuộc phường Vạn Phúc, thuộc quận Hà Đông, cách trung tâm Hà Nội khoảng 10km. Đây là một làng nghề dệt lụa tơ tằm đẹp nổi tiếng từ xa xưa, có nhiều mẫu hoa văn và lâu đời bậc nhất Việt Nam. Lụa Vạn Phúc từng được chọn may quốc phục dưới các đời vua nhà Nguyễn. Nằm bên bờ sông Nhuệ, làng lụa Vạn Phúc vẫn còn giữ được ít nhiều nét cổ kính quê ngày xưa như hình ảnh chiếc giếng làng với những hoa sen, cạnh cây đa cổ thụ, buổi chiều vẫn họp chợ trước đình.

 

Lụa Vạn Phúc

 

*** Làng nghề thêu Quất Động  thuộc xã Quất Động, huyện Thường Tín, nằm ven quốc lộ 1A cũ, các Hà Nội 23 km về phía Nam, nơi mà được ví như đất trăm nghề, nghề nào cũng mang một vẻ tinh tế, độc đáo riêng của từng làng. Nghề thêu đã xuất hiện ở Quất Động từ giữa thế kỷ XV (đời vua Lê Thánh Tông), trải qua hàng trăm năm với bao thăng trầm, hưng thịnh, nhưng người dân vẫn luôn luôn gắn bó với nghề truyền thống. Ông tổ của làng nghề thêu Quất Động là Lê Công Hành (1606 - 1661) tên thật là Trần Quốc Khái - một viên quan thượng thư triều Lê (thế kỷ XVII) vì có công với vua nên được ban Quốc tính họ Lê. Năm 1646, sau khi kháng chiến chống quân Minh thắng lợi, ông được vua Lê Thái Tổ cử làm người dẫn đầu sứ đoàn sang Trung Quốc. Trong thời gian này, ông học được cách làm lọng và nghề thêu truyền thống rất đặc sắc của Trung Hoa. Khi về nước, ông đã đem những kiến thức mình học được dạy cho  dân làng Quất Động.

Người làng thêu Quất Động đã và đang kế thừa những tinh hoa của làng nghề truyền thống, các nghệ nhân của làng đã cho ra đời rất nhiều sản phẩm đa dạng, đáp ứng được nhu cầu ngày càng lớn của thị trường.

 

 

*** Làng đúc đồng Ngũ Xã nằm gần hồ Trúc Bạch, quận Ba Đình, là nơi sản xuất ra các sản phẩm đồng thau cực kỳ tinh xảo đáp ứng cho nhu cầu tiêu thụ đồ đồng của thành Thăng Long xưa và Hà Nội nay. Một trong những sản phẩm nổi tiếng, mang tính nghệ thuật cao của thợ đúc đồng Ngũ Xã là chuông và tượng đồng. Ngoài ra, người thợ đúc đồng Ngũ Xã còn để lại hàng loạt tác phẩm khác cũng rất nổi tiếng, được coi là kiệt tác của nghệ thuật đồng thau Việt Nam như: tượng Trấn Vũ ở đền Quán Thánh, cùng những đồ thờ bằng đồng như lư hương, chân đèn, hạc đồng...

 

  LIÊN KẾT WEBSITE

  THỐNG KÊ TRUY CẬP

Trực tuyến 14
Hôm nay 133
Trong tháng 50116
Tổng truy cập 6330356